Giới thiệu cuốn sách Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu, nhân kỉ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS HCM 26/3
Giới thiệu cuốn sách: Vì con cần có mẹ
TÊT BÌNH AN
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Mười năm

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 09h:49' 13-05-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 2
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 09h:49' 13-05-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
MƯỜI NĂM
Tác Giả: Tô Hoài
Tiểu thuyết
Xuất bản: Văn Học
Ebook: Cuibap
Text: Waka.vn
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI GIỚI THIỆU
hà văn Tô Hoài đã viết một bộ tiểu thuyết gồm ba tác phẩm: Quê người, Mười
năm, Quê nhà. Mỗi tiểu thuyết, câu chuyện, hoàn cảnh và nhân vật đều khác
nhau, nhưng tất cả được nối tiếp có hệ thống về các sự kiện lịch sử và xã hội của
một vùng nhất định.
Câu chuyện về một địa phương, đấy là các làng mạc ở Hà Đông và Sơn Tây, vùng Tây
Bắc thành phố Hà Nội xưa kia, nơi nhà văn Tô Hoài sinh ra và lớn lên. Ở cả ba tiểu thuyết
trên đều in dấu vết những nhân vật trong đó có tác giả và gia đình, bè bạn ở sự việc, ở
hoàn cảnh, ở những kỷ niệm hồi thơ ấu và đương thời. Bộ ba tiểu thuyết này đã được liệt
kê trong danh sách các tác phẩm của Tô Hoài vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học đợt 1 (1996).
Tiểu thuyết Quê nhà (viết 1978) nói về sự việc hai lần quân Pháp tấn công chiếm Hà
Nội cách nay đã hơn một thế kỷ. Tuy nhiên, những nhân vật lịch sử của các trận đánh:
Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc, các tướng tá Pháp
như Phơ răng xi Gácniê, Hăng ri Rivie không phải là các nhân vật chủ yếu. Mà ở đây tác
giả đã miêu tả tình hình các phường xóm và làng quê trong thành ngoại nội mà nhân dân
- các anh hùng vô danh đã dũng cảm nổi lên chống quân xâm lược như thế nào.
Tiểu thuyết Quê người (viết 1941) cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã
bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha
hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài
châu Đại Dương, làm cu li đồn điền. Trong cảnh khốn đốn, phải đi “đất khách quê
người”. Tiểu thuyết Quê người đã được tác giả viết trước nhất, cách đây nửa thế kỷ, từ
khi nhà văn Tô Hoài mới bắt đầu cầm bút. Điều đó chứng tỏ đề tài của vấn đề đã nung
nấu lâu dài trong tâm tư và tình cảm tác giả theo bước với sự phát triển của số phận cuộc
sống và lịch sử.
Tiểu thuyết Mười năm (viết 1957) cũng vẫn quang cảnh và tình hình ở vùng ấy,
nhưng bước sang một giai đoạn quyết liệt nhất, mười năm 1935 - 1945. Nước Pháp đã bại
trận ngay khi bắt đầu cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Phát xít Nhật can thiệp vào
Đông Dương. Đất nước ta bị hai tròng áp bức và bóc lột, nạn đói vô cùng thảm khốc đã
xảy ra mà mỗi con người chỉ còn có con đường một sống một chết.
Trong khốn cùng ấy, lá cờ nghĩa đánh Pháp đuổi Nhật cứu nước do Đảng Cộng sản
Đông Dương lãnh đạo giương cao đã tung bay khắp nước, từ rừng núi xuống đồng bằng.
Tiểu thuyết Mười năm ấy là thời gian mười năm toàn dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, tiến
tới Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.
Đến nay, hơn năm mươi năm đã qua, để thấy được nguyên nhân sâu xa những điều
tâm huyết của Tô Hoài với một vùng đất ông từng gắn bó. Trải ba mươi năm kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ ngày nay đương bước vào giai đoạn xây dựng đất nước hùng vĩ
chưa bao giờ từng có, xin được in lại trọn bộ cả ba tiểu thuyết: Quê nhà, Quê người và
Mười năm.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
I
ùng... tùng... tùng...
Tiếng trống thúc thuế inh ỏi, ra riết, gay gắt, càng về những ngày cuối càng
gay gắt. Không biết những ai mười tám tuổi trở lên phải chạy đông chạy tây lo
thuế thế nào thì lo, nhưng cứ mỗi lúc từng hồi trống ngoài đình nổi lên liên miên ba
tiếng một thì trẻ con các xóm lại cất cổ nhại theo: tiền... tiền... tiền... tiền... tiền... tiền...
Chị Hai Tâm đánh xong mẻ suốt ấy rồi vào sửa cửi. Lạp đương lúi húi cắt cái “rạp” ở
cửa gỗ. Chị Hai ngồi vắt vẻo trên đầu song hành, hai tay luồn vào mặt cửi, vừa gỡ vừa nói
đùa:
- Trống gọi tiền anh Lạp đấy. Anh Lạp năm nay đóng thẻ có sản hay thẻ vô sản?
- Tôi bao giờ chẳng vô sản.
- Sao bảo bài bổ làng ta năm nay ông lý Dĩ khai không có hạng vô sản?
- Thế mới bỏ mẹ ông lý Dĩ! Tôi vô sản lại bắt tôi phải đóng hạng có sản à? Nghị định
đã chẻ hoe là hạng vô sản đóng một đồng, thì cho ở làng. Này các ông ấy có phu phen tạp
dịch hay phụ thu lạm bổ vào đấy nhiều lắm cũng chỉ đến một đồng mười lăm xu là hết
nước. Tôi chỉ đóng có thế.
- Thế thì thuế năm nay cũng lôi thôi đấy nhỉ?
- Lôi thôi chứ!
Chị Hai Tâm đờ mặt:
- Chỉ có bố cháu ở dưới âm phủ là yên trí thôi.
Tùng... tùng... tùng... Chị Hai đờ mặt nghe, rồi nói:
- Thật cũng rầy rà. Hay là anh Lạp cứ đóng hạng có sản đi. Tôi sẽ phụ cho một ít.
- Không được. Phen này chúng tôi nhất quyết cho lý Dĩ một mẻ.
Chị Hai Tâm đứng lên, nguýt Lạp, rồi trách dịu dàng một câu:
- Chẳng thấy ăn thua đâu, chỉ những họp với hành từ hôm nọ tới giờ, bỏ mấy buổi
cửi rồi.
Cơm chiều xong, ra khung cửi, Lạp không xuống ao tắm như mọi hôm. Lạp mặc áo,
đi ngay. Chị Hai dặn với:
- Mai nhớ sang sớm nhé!
Nhưng Lạp đi biệt, bỏ cửi luôn một phiên chợ.
Trong nhà ông Trương Ba, ở cuối xóm. Kẻ nằm người ngồi dưới ánh đèn tù mù vàng
hoe. Bên những đùi, những vế gác ngược gác xuôi lên nhau, những cái khuỷu tay ghẻ cọ,
day cạch cạch xuống phản như chó gãi ghẻ, cái bát điếu chốc lại rên lên sòng sọc. Có mấy
tờ báo Tin tức, mấy cái điều lệ Ái hữu thợ in, thợ may, thợ mũ, thợ giầy, quăng bừa bãi.
Lê trân trân nhìn một cái bìa sách, bỗng cất tiếng hỏi một câu không ăn nhập gì tới
quyển sách nọ:
- An, thế đằng ấy cứ nói thật cái bụng đằng ấy lúc này cho chúng tớ nghe cả nào.
Trong đống người nằm, một câu đáp ậm ờ, lúng túng, nước đôi:
- Đã bảo cứ như mình thì mình không đóng đâu. Mà mình đã không đóng thật.
Mình đã ký cả vào đơn chống thuế với các đằng ấy cơ mà. Nhưng các đằng ấy còn lạ gì u
tớ. Động một tí là nháo lên. Cho nên u tớ có đến nhà lý Dĩ, còn có đóng hay không thì
thật tớ không biết. Riêng tớ thì nhất định không đóng.
Lê đã tức lắm, miệng bầm bập chực nói từ nãy. Cố nén nghe đến đấy thì khó chịu
quá rồi. Lê nhỏm dậy, sấn sổ:
- Mày nói vậy thì chó nó cũng không ngửi được. Thế u mày vào nhà lý Dĩ đóng thuế,
thì đóng cho ai, cho con chó à?
- Nghĩa là...
Lê đứng lên, nói buông choang choang:
- Không phải lễ nghĩa gì nữa. Mày phải biết rằng từ ngày hơn năm mươi chữ ký
chống thuế gửi lên Công sứ, lên Thống sứ Bắc Kỳ thì lão lý Dĩ xanh mắt rồi. Cái thư của
quan Phủ à? Cái thư của Phủ gửi về khuyên anh em cứ đóng theo bài bổ, nhầm lẫn đâu
sẽ xét sau là chúng nó định làm kế hoãn binh. Được thể, lý Dĩ gọi anh em ra đình, phét
lác nhặng lên, nhưng chúng ông nắm được chuôi rồi, càng sợ thì càng to mồm. Cái thư
ấy chỉ là cái thư xoa dịu. Chúng ông không đóng hai đồng rưỡi, chúng ông chỉ có một
đồng. Thế nhưng lý Dĩ nó cũng khéo bịp lắm, nên vẫn có thằng sợ. Tao nói thật chứ, lên
đồn hay xuống phủ thì chúng tao đây cũng chỉ một đồng thôi. Lịch sử loài người chỉ tiến
bộ chứ không bao giờ thoái lui cả.
Trong lúc Lê nói, cả lũ Lạp, Trung, Ba đã ngồi chồm hỗm lên nhìn Lê, như đợi Lê bật
ra một câu gì nặng nữa cho hả. Chưa thấy Lê nói. Anh nào cũng liếm mép mấy lượt. Rồi
có anh đánh một câu:
- Tiên sư những đứa khốn nạn thậm thọt vào nhà lý Dĩ!
An chạm phải gai, nhỏm dậy:
- Nếu không đi với chúng mày thì tao đến đây làm gì? Đứa nào thậm thọt? Thằng
nào chửi mẹ ông thế?
Im lắng.
- Trước sau tao vẫn bảo tao với chúng mày là một thì chúng mày lại chửi tao nhem
nhẻm. Thế là thế nào? Khối đứa kia kìa, cũng ký đơn hăng lắm, mà bây giờ nói theo phe
lý Dĩ, nó đóng thuế có sản, nó phản thùng chửi lại thì chúng mày lại câm họng. Cánh nhà
lý Dĩ, lại chi tóp những họ Nguyễn, họ Bùi đấy, làm gì được chúng nó thì làm nào?
Lê nói:
- Thế nào cũng có thằng bỏ mẹ với ông!
An cười nhạt:
- Không nói thăng thiên đấy chứ?
- À, mày láo hả?
Lê và An cùng phắt lên, lênh nghênh như hai ông tướng phường chèo trên cái phản
mọt, mà bốn chân mễ đã chuyển răng rắc. Lạp, Trung, Ba nhỏm cả dậy. Ông Trương và cô
Nhàn ở trong nhà cũng phải chạy ra. Họ lôi hai người ngồi xuống.
Lạp giảng giải:
- Lúc này mà đánh nhau là nát bét hết công việc. Dù sao thì lý Dĩ cũng đuối lý, nhất
định mình theo kiện đến cùng, thế nào cũng được. Nhưng phải nhận rằng hàng ngũ
chúng ta trước kia ghép chặt thế mà nay thì lỏng lẻo rồi. Hơn năm mươi chữ ký đấy mà
rơi rụng chỉ còn độ hai mươi là trung thành thôi. Cho nên phải tìm cách nào chứ đánh
nhau à? Ông thả ra cho mỗi thằng quạng nhau vài cái chán tay thì chỉ đến ngồi thở, ăn
thua mẹ gì! Mà vẫn không thể được kiện!
Câu nói của Lạp vừa cay, vừa có lý. Trong im lặng, cả bọn lọt vào một cái châng hẩng,
nặng nề. Mỗi người lại lần lượt với cái bát điếu về phía mình. Bực tức, càng rít khỏe.
Nước điếu tù sòng sọc rên lên. Rồi sau làn khói, những cái miệng lơ mơ há hốc.
An vẫn lảu bảu nói:
- Ông không đi với anh em thì tội gì ông đem bài đi đăng báo, đi mua sách báo cho
chúng mày. Ừ, dù u ông có đóng thuế mất rồi, thì ông vẫn bảo ông vẫn thế kia mà, cũng
vẫn được kia mà. Thằng Lạp nói đúng, bỏ ra một mình suất của tao, cố giữ được hai
mươi suất không đóng, chứ nếu để tan vỡ cả, nó quật lại cho thì phen này đến bỏ làng
bán xới cả lũ. Để mai tao đi mua báo mới về xem tin tức các nơi ra sao.
Cho đến khuya, không ai nói nữa. Lê nói một câu cuối cùng, rồi ai về nhà nấy.
- Đứa nào gặp anh em cũng dặn lại nhau một lần nữa. Không sợ, còn ba người cũng
không sợ. Nhất định chỉ đóng vô sản một đồng thuế thôi, đi đến đâu thì đi.
Tuy vậy, điểm những mặt ngồi đấy, không những chỉ có An mà còn có anh khác cũng
phân vân, muốn nước đôi. Có anh ngồi đây, nhưng ở nhà đã đem tiền thuế đến lý Dĩ, năn
nỉ: “Ông cứ cho cháu nó đóng đằng có sản. Nó dại, đi a dua, rồi tôi bảo dần”. Lý Dĩ cười:
“A dua những thằng khố dây, có làm sao thì đến vặn răng chúng nó là cùng, dại quá”. Thì
bà Hương, mẹ An cũng nghĩ thế, làm thế.
Hôm sau, An ở tỉnh về, nách cặp một xấp hai mươi tờ báo Tin tức. Gặp ngay bọn Lê
ngồi chầu rìa đầu làng, đương mong mỏi, chờ đợi.
Trên đình, thằng mõ vẫn thẳng cánh giọt trống ngũ liên. Từ ngày ký đơn chống thuế,
thật tình từ cái lúc hồi ngũ liên đầu tiên báo hiệu gióng giả thu thuế, bọn Lê đã bắt đầu
sốt ruột, không anh nào yên tâm làm gì. Không phải vì có ai xui giục, mà chỉ bởi vốn ghét
sẵn bọn lý dịch, nhân vụ thuế sắp tới, đọc báo Tin tức thấy các nơi kêu thuế, thì họ họp
nhau lại chống thuế. Báo Tin tức từ đấy là cái nguồn phấn khởi giúp họ.
Trông thấy An, mọi người nhao nhao:
- Thế nào? Thế nào?
An giơ tập báo. Những cái đầu bu lại, giữa tiếng Lê thì thầm với An. Lê đã quên
những cãi cọ tối qua, cũng như không để ý cả chuyện mẹ An đã đem tiền đóng thuế cho
An mà ai cũng biết, Lê nói:
- Nó định gọi lính phủ về ốp. Mai đã là ngày tận thu rồi.
- Yên, yên. Báo nói đây này.
An mở trang giữa tờ báo bốn trang khổ rộng. Ở cột cuối có bài: Anh em vô sản làng
Hạ cương quyết đấu tranh. An cất giọng đọc to cho mọi người cùng nghe. Bài báo ấy ở
tòa soạn đã chữa nhiều câu khác câu của An viết, ngay từ cái đầu đề, nhưng nghe vẫn
hợp lắm, và lại thêm nhiều chữ chính trị càng thấm thía hơn. An đọc tiếp sang những tin
chống thuế ở các nơi khác. Mọi người bồi hồi cảm thấy sự liên lạc tinh thần giữa mình
với tòa báo và với anh em chống thuế đang sôi nổi khắp mọi nơi (Nhiều nơi còn kịch liệt
và gay go hơn ta)... An vẫn đương đọc vanh vách trong tờ báo ra, thì những người uể oải
lo sợ nhất cũng lại háo hức, sôi nổi lên.
Lê nói:
- Nếu thế thì việc chánh Nhạ hôm nay cũng cần phải đăng báo lắm.
- Phải, phải rồi.
- Đăng báo cho nó một mẻ!
- Việc gì thế?
- Sáng nay chánh Nhạ trói thằng Ngô rong lên khắp làng. Vừa đi, nó vừa đánh, vừa
chửi xỏ: “Mày bắt chước những thằng nào, mày muốn ỳ thì bảo ông. Trêu tay ông không
được đâu. Ông cứ đánh cho đến bao giờ mày ộc ra máu, ra thuế, mới thôi. Ông phải thi
với mày xem đứa nào gan hơn đứa nào.”
- Cái này là một cái dã man, ta phải đăng báo.
Họ lại rối lên bàn chuyện đăng báo. Mà quên không để ý đi nghe ngóng xem mai lý
Dĩ có gọi được lính phủ về đốc thuế ngày tận thu không.
Trên đường vào xóm, cả bọn gặp chị Hai Tâm. Trông thấy cái áo cánh vải lơ trắng
mát với chiếc thắt lưng màu hoa lý phất phới đằng xa, Lạp toan lẩn, nhưng không kịp.
Chị Hai đã gọi eo éo:
- Gớm thật, anh bắt tôi đánh đuổi anh hết ngày này sang ngày khác thế này là ra làm
sao?
- Chị cứ về. Mai tôi đến.
- Anh thử nhớ xem anh hẹn mấy mai rồi?
Lạp cười:
- Mai thật mà.
- Hay là tôi đóng thuế cho anh cho xong đi để còn làm ăn chứ.
Lạp vừa ngượng, vừa tức, sừng sộ:
- Ơ hay chị này! Đừng có đụng vào đấy mà không xong với tôi.
Chị Hai cười, đấu dịu:
- Ừ thế mai nhớ sang sớm, đừng để đỗi cơm mà tôi rủa cho ngồi đứng không yên
đấy.
Chị Hai đi khỏi, có anh nói pha:
- Nói với thợ cửi nhủng nhẳng như nói với chồng con ấy.
- Mày làm bố thằng Tâm thế mà được.
- Chỉ láo nào!
Lại như thói quen, tối đến, họ họp nhau ở nhà anh Ba, kẻ nằm người ngồi dưới ánh
đèn tù mù vàng hoe. Những đùi, những vế gác lên nhau, những khuỷu tay ghẻ cọ, day
xuống mặt phản, bên cạnh cái điếu, mấy quyển sách quăn hết mép, mấy cái điều lệ Ái
hữu đã nhàu nát và những tờ báo Tin tức mới. Họ nói cho nhau biết những tin, chuyện
nhặt được trong ngày. Lý Dĩ cũng bí lắm. Không gọi được lính phủ về, vì mùa đổ thuế
này, những cơ, lệ còn phải bổ đi thúc các làng khác, có nơi còn khó khăn hơn đây nhiều.
Lão lý bắn tiếng muốn điều chỉnh, muốn chia đôi số bài bổ thừa, cánh vô sản chịu một
nửa, lão chịu một nửa. Lại cũng nghe chuyện lý Dĩ uống rượu, bảo con: “Chúng mày
sống để dạ chết mang đi, nhớ lấy mặt bọn thằng Lê, thằng Lạp, thằng Trung mà giả thù
cho tao”. Lão cuống rồi. Ngũ liên vẫn đánh ra rả. Xin phép trên phủ cho được kéo dài hai
ngày nữa thì cũng chỉ đến chiều ngày kia là tận thu. Nếu như đến bấy giờ vẫn không
chịu đóng, lão phải cộp tiền nhà lão ra. Lão chịu thế ư? Sao bây giờ vẫn chưa đả động
tróc nã đến bọn chống thuế? Muốn xoay đòn gì đây?
- Đòn gì, đòn bán nhà mà nộp thuế đậy.
Từ nãy, Lê ngồi yên, mơ màng trước trang báo mở rộng, mùi mực, mùi giấy thơm
hăng hắc bốc lên, lung linh những chữ in tròn, gọn và sắc nét lạ lùng. Lê nhìn An đương
viết bài gửi đăng báo kể việc chánh Nhạ dã man đánh đập thằng Ngô. Lê ngắm An cắm
cúi, hí hoáy viết. Lê thèm, Lê thấy khao khát viết. Bài báo kia cũng cảm Lê không kém tha
thiết, có phần lại quyến rũ hơn, rành rõ hơn. Người ta có thể viết được báo. Thì chúng ta
đã viết báo rồi đấy. Cái bài An viết hôm nọ, đem đọc ra, mình cũng viết thêm vô khối câu
vào, bây giờ những câu của mình ấy cũng đương bò lổm ngổm trên tờ giấy thơm phức
kia, chẳng của mình thì của ai. Lê nhớ một lần ra Hà Nội, đến tòa báo Tin tức, thấy các
anh tòa báo với anh “loong toong”, anh viết băng báo cùng ngồi xúm quanh mâm cơm
rau muống chấm tương, vẻ bình đẳng và đại đồng lắm. Từ ấy, nhất là lúc này, Lê ước
được làm anh “loong toong”. Lê không muốn làm chân viết băng báo, vì Lê vốn chỉ học
lấy, không tập viết, chữ nghều ngoào như cua bò, nếu Lê được làm chân chạy giấy ở tòa
báo Tin tức để được học thêm, học chữ, học tranh đấu làm cách mạng, viết được bài trên
các báo phái tả, dưới đề tên tác giả: Văn Lê. Mộng to quá! Nhưng mà sao lại không thành
sự thực được. An viết bài báo, Lê cũng viết được bài báo. Một bài báo cũng chỉ bằng
những chữ ta thường nói. Chỉ cột cái tinh thần. Lê viết. Lê lấy mảnh giấy, nhấm bút chì
viết. Bên cạnh những cái lưng, cái chân đương kỳ xuống phản, chốc lại hích vào Lê, xô cả
mảnh giấy Lê viết, Lê hí hoáy... Chánh Nhạ... anh Ngô... vừa đánh vừa chửi... dã man... ức
hiếp... tranh đấu... công... công gì nhỉ?
Quá nửa đêm, họ lẻ tẻ về, có người đã nằm ngáy khò. An và Lê vẫn ngồi lên, nằm
xuống, băn khoăn. Lê cũng đã viết xong, Lê đưa cho An xem những dòng chữ chì của
mình leo lên bò xuống chi chít trên mảnh giấy không có một cái dấu chấm câu.
An đọc bài của Lê, rồi nói:
- Hay đấy. Tao ghép bài của mày vào bài của tao, rồi gởi đăng báo.
- Thế hả?
Trong ánh mắt Lê cười ngụ một cái thú vị kiêu hãnh. Xưa nay không biết mặt chữ,
không mất một xu đóng tiền học cho ông thầy, ông đồ nào mà bài viết của ta cũng ghép
được với bài của cái thằng có một bụng chữ, đi học từ lúc để chỏm.
Lê nói:
- Mai chúng mình đem bài này đi. Nhân thể, mua thêm báo Tin tức về bán. Còn có
thể bán được vài chục số nữa chứ không phải ít đâu. Bán cả sang các xã khác cho mở
rộng phong trào.
- Mai mày không đi dệt cửi à?
- Kệ.
Rồi Lê bảo An dạy cách đặt các thứ dấu phẩy, dấu chấm, dấu than, dấu hỏi, dấu
trước câu nói ngoặc ra ngoặc vào. Cho đến lúc hai người đi về, trong đêm khuya, Lê ta
hãy còn ve vuốt mộng viết báo.
- Viết báo thế mà khó.
An nói:
- Phải học nhiều.
- Tao nghĩ đọc nhiều sách cần hơn. Tao nghe nói như anh Trần Huy Liệu là người đọc
nhiều sách chứ có phải là người mất tiền đi học nhiều đâu, mà giỏi thế.
- Mày dốt lắm! Đọc hay học thì cũng vậy.
- Tao sẽ đọc nhiều hơn và tập viết. Trước hết tao nhờ mày dạy tao viết chữ quốc ngữ
cho thật đúng đã. Tao sẽ viết báo, viết sách, tao thích cả làm thơ.
Hôm sau, Lê và An ra tòa báo ngoài Hà Nội. Lạp cũng đi theo. Lạp vẫn chưa trở lại
khung cửi nhà chị Hai Tâm.
II
ài báo Phản đối đánh người trong lúc thu thuế của An và Lê viết tối ấy, đưa ra báo
Tin tức đăng ngay. Báo đăng ngay. Báo Tin tức số ấy đem về bán thêm được mấy
chục tờ, cả vùng. Anh em thích quá, tán: bọn lý dịch chúng nó run như dẽ!
Rồi lại chống thuế thắng lợi nữa. Thì ra lão lý Dĩ vì chắc mẩm ăn thua trong dịp làm
thuế mới, đã khai bài bổ tâng công với phủ: làng Hạ không có sưu vô sản. Nay lòi ra mấy
chục suất, thì lão phải đóng đậy vào. Những người kia, vô sản thật, họ chỉ xỉa ra có một
đồng bạc. Lão lý tím mặt lại.
Ít lâu sau, lão lý đem cầm đoạn mại một thửa vườn tre.
Từ đấy, cả một vùng, khét tiếng thanh niên làng Hạ, đâu cũng kéo về đánh bạn. Bấy
giờ là năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, phong trào Bình dân sôi nổi ở ngoài Hà
Nội. Những người thanh niên các làng đương thèm khát say mê cái mới, cái lạ. Họ là
những người trẻ tuổi, khi họ lớn lên thì những cái lò rèn bí mật ở Thừa Lệnh Sơn Tây
làm bom bằng xi măng, mảnh chai, sắt vụn cho Việt Nam quốc dân đảng đã tan không
còn, việc thủ lĩnh Nguyễn Thái Học và những người đảng của ông bị lên máy chém ở Yên
Bái, Nhà nước Bảo Hộ tuyên truyền dọa nạt rầm rộ, cùng với hàng nghìn “vụ án Đông
Dương Cộng sản đảng” cũng chỉ còn là một cái ám ảnh khủng khiếp, nhưng lại gợi thêm
tò mò, nghĩ ngợi, thắc mắc mà thôi. Và những quyển sách in chằng chịt ảnh các chính trị
phạm bị tầm nã mà các viên quan công sứ đầu tỉnh tự tay phát bí mật cho các thày chánh
tổng, lý trưởng cũng đã bỏ xó trong tủ, không mấy khi các ông chánh lý phải mở ra để
nhìn mặt những người không có thẻ thân, những người đi qua làng bị tuần canh khả
nghi bắt giữ lại.
Nhưng đời sống hàng ngày thì lại dần dần biến đổi và hết sức bập bỗng. Nghề lĩnh
và nghề tơ tằm thôi thế là không còn ngóc dậy được nữa. Những người thợ cửi già dệt
giỏi lĩnh mười bàn nay cũng phải xoay sang tập dệt lụa khổ rộng, thoi giật máy. Các
khung cửi bây giờ làm lụa bằng tơ Ly-ông bên Tây, tơ tàu Tứ Xuyên, rồi gần đây thì tràn
lan cái tơ bóng tơ mờ nhập cảng của Nhật. Những lái buôn lụa vào lại bán tơ ra, hàng
phiên về ngồi xềm xệp giữa chợ Đơ ở Hà Đông, chẳng phải ướt cái khăn mặt lau mình
mồ hôi như khi ta đổ cuốn cửi mà họ mua ra, bán vào, lãi ăn bạc nghìn, giữ quyền sống
chết của cả mấy vùng công nghệ. Có người buôn lụa bán tơ Tây tơ Nhật giàu quá như
nhà Vũ Văn An, lại tậu máy tận bên Tây về mở xưởng thuê cả trăm thợ dệt. Vài ba nhà
buôn khác cũng xoay sang làm hàng chục khung cửi. Nhưng hầu hết các làng thì lẹt bẹt
mỗi nhà một hai khung, phiên đắt phiên rẻ, càng khiến cho người trong nghề chẳng biết
rồi ra làm sao. Hàng dệt càng không ai lấy làm quí nữa, chỉ làm điêu mãi ra, mỗi ngày
một đan mành mành bôi bác. Khách và lái mua thì tùy ý họ, phiên có phiên không, mùa
đắt mùa ế, mỗi năm chỉ rộ được vài tháng là giỏi lắm, rồi lại sạch tay, lại đương chủ hóa
thợ dễ như chơi. Nghề nghiệp và cuộc sống u ám, khó hiểu, tạm bợ. Giữa lúc ấy, bao
nhiêu tiếng vang mới lạ từ thành phố đưa tới. Họ mang máng rằng cả cái xã hội này cũng
chỉ là tạm bợ, không có lý và phải thay đổi. Họ là một lớp thanh niên mới lớn, khỏe,
hăng, háo hức.
Trong anh em hăng hái ở làng này chỉ có An là đã ngồi qua lớp nhất trường phủ.
Trung và Ba thì chưa biết chữ. Còn Lê, Lạp đều là những cậu nhai a, b, c ở nhà, học vu vơ
thế rồi cũng hóa ra đọc được. Họ mê mải lạ lùng, sách gì cũng đọc, chuyện gì cũng bàn
cãi và đêm ngày gò lưng nằm viết bài, chép thơ, viết thư tình chẳng gửi cho cô nào cả mà
để đọc với nhau. Trung cũng đã mua quyển sách mở lòng. Lê và An hô hào góp tiền lập
thư viện. Họ đi mua về những quyển Vấn đề dân cày, quyển Chu Đức, quyển Chiến sĩ xã
hội, những tiểu thuyết Tắt đèn, kịch Không một tiếng vang[1]... và các báo Tin tức, Đời
nay, tuần báo Thế giới, Kiến văn. Họ tập kịch Không một tiếng vang và mỗi chiều chợ tơ
thong thả lại họp nhau ở nhà ông Trương Ba đọc báo, đọc sách, cãi cọ văn thơ, chính trị
và hát. Rồi hễ nghe ở làng nào có tay thanh niên biết ăn nói giỏi là tìm đến làm quen để
thuyết và rủ cánh đánh bạn.
Thỉnh thoảng ngày phiên, cả lũ kéo bộ ra thành phố, đến chơi tòa báo Tin tức. Các
anh ở tòa báo tiếp, mời ngồi ghế sa-lông, hỏi han tỉ mỉ, thân mật, cặn kẽ, sướng quá.
Chưa bao giờ được gặp những người tri thức giỏi như thế lại thân như anh em, làm cho
họ có cảm tưởng tòa báo ấy gần gũi. Mỗi lần trở về làng, lại thấy vùng mình thấp đi và họ
say sưa hùng hồn nói toàn những tiếng mới vừa nghe được. Bắt chước giọng các anh ấy,
họ uốn cong lưỡi khi nói đến các tiếng có chữ s, chữ ch, chữ d, sự sống, tổ chức, quần
chúng, Đông Dương đại hội...
Một hôm Lê bảo An:
- Ngoài tòa báo trả lời rằng dù về đây hơi xa nhưng các anh có thể đi xe đạp về giúp
huấn luyện cho chúng ta được. Chủ nhật này thì có một anh về. Ta họp anh em ở đâu cho
tiện?
- Không nên ở nhà thằng Ba. Chúng ta phải có nhiều nơi hội họp. Cần kín hơn. Mà
bất ngờ càng hay. Cho bọn lý dịch chúng khiếp, chỗ nào cũng thấy thanh niên.
- Ờ. Nhà cậu thế mà tốt. U cậu đã đóng thuế thân cho cậu, chúng nó tưởng cậu
không cùng cánh với chúng tớ nữa rồi.
An chối:
- Không tiện. Nhà tớ hay có người ở tỉnh về chơi. Phải bí mật hơn.
- Nhà bác cai Giắt được chứ?
- Được thì tốt quá.
Nhà bác cai Giắt ở khuất. Nhà có cổng gỗ, chòi cổng chứa sẵn toàn mảnh sành, chai
vỡ nghiêm ngặt hệt trại lính. Bác ấy vui tính, cái gì cũng thấy vui, vợ mắng như tát nước
vào mặt mà vẫn tìm ra cách nghĩ chỉ thấy vui. Lúc nào bác cai cũng đeo bên sườn cái bình
toong đựng rượu còn giữ được từ ngày mãn lính. Các ông lý dịch không ưa tính bốp chát
của bác. Vả lại, bác đã đi lính sang tận bên Tây, cái năm có chuyến nhà nước lấy lính ta
sang dẹp loạn bên Ma Rốc, bác đi lâu, ở cơ ngũ, có đánh trận mạc hẳn hoi mà sau khi
mãn về vẫn chân trắng binh bét, cho nên tự nhiên là lý dịch họ khinh bác. Bác đã đi
nhiều, đâu cũng biết, biết cả con “sa mù [2]” có hai cái bướu trên lưng quanh năm nhịn
nước. Bác đã được qua cái bãi sa mạc toàn đồng không cát trắng, chẳng bao giờ đi hết
được, cho nên, cũng tự nhiên là bác cai xem mấy ông chức việc trong làng chỉ rất xoàng
mà thôi. Thấy trai làng chống thuế, bác bảo: “Được đấy. Cứ bắn khỏe vào. Ở bên Tây,
những quan ba quan tư mà chúng tớ vẫn kiện thẳng cánh, chẳng có gì là sợ”.
Bác cai Giắt cười khề khề. Thật tình thì chỉ mới nghe Lê nói lõm bõm, bác cũng chưa
hiểu các anh trai làng định mượn một gian nhà mỗi phiên chợ một buổi để làm cái gì,
nhưng vốn tính hay tưởng cái gì mình cũng biết cả rồi, bác cứ ừ, cứ bảo: “Khi còn ở lính,
chúng tớ cũng vẫn làm thế mà”.
Cái gian đầu hồi nhà ông cai Giắt được quét tước sạch sẽ. Họ đem treo vào đấy một
bản đồ Đông Dương cắt ở sách ra. Rồi chủ nhật ấy, buổi trưa, bọn Lê, Trung, Lạp, An ra
tận đầu làng đứng đợi anh nhà báo. Từ giữa cánh đồng, chuông xe đạp kêu kính keng,
anh nhà báo đã về. Anh xuống xe, bắt tay mỗi anh một cái rất chặt rồi miệng anh lại tự
giới thiệu “Tôi là Tần, các đồng chí tên là gì?”. Sau đó, cùng kéo về nhà bác cai Giắt. Anh
Tần làm việc ngay. Anh đứng chỉ bản đồ nói chuyện về phong trào dân chủ chống phát
xít trên thế giới và Đông Dương. Anh em nghe mê mải. Bác cai Giắt đương dệt, chốc
chốc cũng lại bỏ cửi, tay cầm cái thoi ra đứng ngoài cửa, nghênh bộ râu trê nhìn vào. Lúc
anh nhà báo ra về, mọi người nắm tay giơ lên đầu chào nhau theo lối chào của thanh
niên dân chủ thế giới. Bác cai Giắt cũng xòe bàn tay giơ ngang tai chào anh nhà báo ấy rồi
bảo Lê: “Ở trại lính thì xòe tay chào thấp thế thôi. Này cái bài các tướng vừa nghe giảng,
ngày trước ở lính tớ vẫn được nghe luôn, mà người ta làm ra thành vè như truyện Kiều
kia. Thế mà còn rất khó nhớ. Học cái này nát óc hơn đánh tổ tôm!”.
Anh em thì thích quá. Chưa bao giờ được nghe tình hình nhiều và rành rõ như thế.
Lần sau, họ còn rủ thêm nhiều anh nữa ở làng dưới lên.
Luôn mấy tuần lễ liền, anh Tần về nói chuyện.
Chủ nhật kia, họ lại hội nhau lại đợi anh Tần. Nhưng đến tận chiều cũng chẳng thấy
anh ấy đến. Mọi người sốt ruột. Vả lại ngày cuối phiên, ai cũng bận, mọi người lãng đãng
về. Chỉ còn có Lạp, Lê, Trung vẫn rốn ngồi đợi. Mãi đến chặp tối mới thấy anh Tần dắt xe
mò vào trong ngõ.
- Có một thằng “cớm[3]” theo từ đầu ô, mình đạp nhanh nó cũng nhanh, chậm nó
cũng chậm, về đến đây mà nó vẫn bám, mình phải đạp phóng một quãng xa cho lạc nó
rồi mới quay lại được.
Họ nhìn Tần bằng con mắt kính phục. Mặt anh vuông, bạnh. Bàn tay to như bàn tay
một công nhân nhà máy, miệng anh cười tươi và nói lưu loát đúng chất một chiến sĩ cách
mạng. Cái sơ mi trắng cộc tay, cái quần soóc trắng, càng làm tăng dáng vạm vỡ, nom anh
thật hệt một công nhân bên Liên Xô đầu óc đầy hiểu biết và tranh đấu. Anh xứng đáng
để bọn "cớm" phải theo. Lê nói:
Đầu óc đầy hiểu biết và tranh đấu. Anh xứng đáng để bọn “cớm” phải theo. Lê nói:
- Nếu anh vào bảo lúc nãy thì chúng tôi sẽ ra giã cho nó một mẻ.
- Ấy chớ, không nên bạo động không cần thiết.
- Vào làng thì đánh dễ lắm, thỉnh thoảng cũng phải đấu tranh thế nó mới sợ, anh ạ.
Tối nay chỉ có ba người nghe anh Tần nói. Tần đứng trước bàn, vừa nói vừa chống
một nắm tay xuống. Mấy người nghe ngồi trên bậu cửa.
Anh Tần nói về lịch sử loài người. Người ta không phải do ông Bành Tổ sinh ra. Mà
loài người chỉ là loài khỉ ngày một tinh khôn dần lên, trải qua bao nhiêu nghìn, vạn, triệu
năm cho tới được mức đầu óc và lối sống văn minh như ngày nay...
Tần rút trong túi áo ra một mảnh giấy con. Tần đọc to những câu hỏi ghi trong giấy:
Giai cấp đấu tranh là gì? Chủ nghĩa tư bản là gì? Chủ nghĩa đế quốc là gì? Chủ nghĩa
phát xít là gì? Làm thế nào để thực hiện chủ nghĩa cộng sản? Rồi Tần lần lượt cắt nghĩa.
Đến câu khoái nhất: Ở chế độ cộng sản không còn giai cấp đấu tranh nữa. Tần hùng
hồn nói, nhíu đôi mày rậm, căng mặt, tung cả khuy áo ngực; nắm tay anh nhấc lên đặt
xuống như cái chày giã gạo.
- Đồng chí Các Mác nói: “Vô sản toàn thế giới hãy liên hiệp lại”. Có thế thì cách
mạng mới thành công được. Bấy giờ giai cấp vô sản đã đánh đổ giai cấp tư bản, trả lại
quyền lợi, tự do và sức làm việc cho tất thảy mọi người. Hết bọn chủ mỏ, hết chủ đồn
điền, hết những bọn chuyên môn bóc lột. Bấy giờ người ta trên hoàn cầu chỉ còn phải
tranh đấu với thiên nhiên. Nghĩa là thế này: người dân cày một năm gặp hạn hán thì nhà
bác học bèn nghĩ ra cách làm cho trời phải mưa. Ở Liên Xô bây giờ đương làm được như
thế. Nhà bác học lại nghĩ ra những thứ thuốc chống bệnh tật, ốm đau, có thể làm cho
người không bao giờ chết. Bấy giờ không phải chỉ có một ông Bành Tổ tưởng tượng mà
ai cũng là ông Bành Tổ, mà là ông Bành Tổ béo tốt, sung sướng, muốn gì được nấy, muốn
đôi giầy được đôi giầy, muốn cái áo sơ mi trắng được cái sơ sơ mi trắng. Trên hoàn cầu ai
cũng vui vẻ, trẻ con không biết khóc, người lớn không biết cãi nhau, không đâu còn nạn
thất nghiệp, nạn mãi dâm, ai cũng được đi học, được phát triển tài năng của mình và tiêu
dùng tha hồ những của cải của xã hội làm ra...
Ánh đèn hắt lên trán anh Tần nhếnh nhoáng mồ hôi. Anh Tần nói nghe mê quá. Bốn
bề im phăng phắc.
Rồi cả bọn ra ao tắm. Trăng sáng như ban ngày. Cửa sổ bên khung cửi chị Hai Tâm
cũng vừa tắt đèn lên đầu hôm. Chị Hai cầm cái quạt nan ra đứng bên bờ ao, ngửa mặt
quạt mớ tóc buông xõa dài chấm gót. Chị vừa ra khung cửi. Thoáng trông xa trong ánh
trăng thấy trần hai vai, lồ lộ mảnh yếm trắng lốp như cánh hoa nhài nở đêm. Thấy mấy
người lố nhố xuống cầu ao bên này, chị Hai hỏi:
- Có anh Lạp đấy không?
Lạp khẽ:
- Đừng ai gọi tên tớ nhá.
Lê đáp to:
- Có Lê đây thôi.
- Tưởng có anh Lạp thì bảo về mà ngủ sớm, chả có mai lại nửa ngày chưa vào khung
cửi.
Mấy người cười rinh rích. Chị Hai vẫn chưa chịu buông chuyện:
- Anh Lê hồi này làm đâu mà thong thả thế?
- Thong thả quái gì, vội chúi mũi suốt phiên đấy.
- Vội mà đêm cuối phiên bận nhất thế này lại nghỉ? Khéo giấu đầu hở đuôi!
- Vội ngày thôi, tối vẫn nghỉ như thường.
Lê lại nói:
- Chẳng khác ngày làm tám tiếng bên Liên Xô, chị có biết không?
Trong nhà bác cai Giắt có tiếng đàn bà léo xéo. Mọi người lắng tai nghe. Chưa hiểu là
bác cai gái đương chửi mát những đứa động cỡn nói chuyện đêm qua ao hay bác ấy to
tiếng gì, nhưng chị Hai đã nói:
- Bà lão mắng ông lão đấy.
- Rõ khổ!
- Chỉ tại các tướng thôi.
- Sao lại tại?
- Họp với hành ở nhà người ta để ông lão cứ xem ra xem vào, mất việc, vợ lão mới
chửi cho chứ sao!
- Sang tận Tây về mà chịu nước ức ấy nhỉ?
Chị Hai Tâm cười khanh khách:
- Chưa ai trông thấy chòm râu quặp của bác ấy bao giờ à?
Bốn anh đàn ông lố nhố ngâm mình dưới ao vẫn chuyện sang. Lạp nói khẽ:
- Chuyện ma mãnh với chị này thì cả đêm được!
Bên kia lại léo nhéo:
- Nhà bà tôi trong xóm còn một khung, anh Lê có về làm thì tối tha hồ nghỉ đi chơi.
Lê đùa:
- Một thằng Lạp còn chưa đủ, lại tôi nữa, chị mộ nhiều người thế? Có cần cả bọn này
nữa không nào?
Tiếng cười lại oang trên mặt nước. Chị Hai, chưa nghe rõ, cũng cười theo. Lạp bảo:
- Bé mồm chứ. Bà lão Đôi mà nghe tiếng tưởng đứa nào chim chuột con dâu bà ấy, lại
ra chửi toáng lên bây giờ.
Lê thì thào:
- Tớ đã có phép, nếu tớ lên bây giờ thì ả phải vào ngay. Lên nhá!
Nói rồi, Lê lên bờ ao thật. Lê tồng ngồng, lấp loáng trong bóng tối và ánh trăng. Chị
Hai vẫn đứng bên kia, quạt tóc phành phạch. Làm như không biết. Phải cho tới cả ba bốn
người nồng nỗng ào lên, chị Hai mới đủng đỉnh vào. Hai vai trắng ngần như bóng trăng
lặn sau bụi hoa đơn đỏ. Anh Tần phải nói: “Bạo thật! Có thể giác ngộ chị ấy”. Lạp cười:
“Chị ấy có mà giác!” Cả bọn cùng cười, vẻ đồng ý câu đùa mỉa của Lạp.
Ở dưới ao lên, qua nhà ngang, còn nghe tiếng bác cai gái nói ì èo. Lê nói:
- Bao giờ cho xã hội hết những cảnh đau khổ này?
Ra đến đầu ngõ, thấy bác cai Giắt đã đứng đấy, ta...
Tác Giả: Tô Hoài
Tiểu thuyết
Xuất bản: Văn Học
Ebook: Cuibap
Text: Waka.vn
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI GIỚI THIỆU
hà văn Tô Hoài đã viết một bộ tiểu thuyết gồm ba tác phẩm: Quê người, Mười
năm, Quê nhà. Mỗi tiểu thuyết, câu chuyện, hoàn cảnh và nhân vật đều khác
nhau, nhưng tất cả được nối tiếp có hệ thống về các sự kiện lịch sử và xã hội của
một vùng nhất định.
Câu chuyện về một địa phương, đấy là các làng mạc ở Hà Đông và Sơn Tây, vùng Tây
Bắc thành phố Hà Nội xưa kia, nơi nhà văn Tô Hoài sinh ra và lớn lên. Ở cả ba tiểu thuyết
trên đều in dấu vết những nhân vật trong đó có tác giả và gia đình, bè bạn ở sự việc, ở
hoàn cảnh, ở những kỷ niệm hồi thơ ấu và đương thời. Bộ ba tiểu thuyết này đã được liệt
kê trong danh sách các tác phẩm của Tô Hoài vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học đợt 1 (1996).
Tiểu thuyết Quê nhà (viết 1978) nói về sự việc hai lần quân Pháp tấn công chiếm Hà
Nội cách nay đã hơn một thế kỷ. Tuy nhiên, những nhân vật lịch sử của các trận đánh:
Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc, các tướng tá Pháp
như Phơ răng xi Gácniê, Hăng ri Rivie không phải là các nhân vật chủ yếu. Mà ở đây tác
giả đã miêu tả tình hình các phường xóm và làng quê trong thành ngoại nội mà nhân dân
- các anh hùng vô danh đã dũng cảm nổi lên chống quân xâm lược như thế nào.
Tiểu thuyết Quê người (viết 1941) cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã
bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha
hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài
châu Đại Dương, làm cu li đồn điền. Trong cảnh khốn đốn, phải đi “đất khách quê
người”. Tiểu thuyết Quê người đã được tác giả viết trước nhất, cách đây nửa thế kỷ, từ
khi nhà văn Tô Hoài mới bắt đầu cầm bút. Điều đó chứng tỏ đề tài của vấn đề đã nung
nấu lâu dài trong tâm tư và tình cảm tác giả theo bước với sự phát triển của số phận cuộc
sống và lịch sử.
Tiểu thuyết Mười năm (viết 1957) cũng vẫn quang cảnh và tình hình ở vùng ấy,
nhưng bước sang một giai đoạn quyết liệt nhất, mười năm 1935 - 1945. Nước Pháp đã bại
trận ngay khi bắt đầu cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Phát xít Nhật can thiệp vào
Đông Dương. Đất nước ta bị hai tròng áp bức và bóc lột, nạn đói vô cùng thảm khốc đã
xảy ra mà mỗi con người chỉ còn có con đường một sống một chết.
Trong khốn cùng ấy, lá cờ nghĩa đánh Pháp đuổi Nhật cứu nước do Đảng Cộng sản
Đông Dương lãnh đạo giương cao đã tung bay khắp nước, từ rừng núi xuống đồng bằng.
Tiểu thuyết Mười năm ấy là thời gian mười năm toàn dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, tiến
tới Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.
Đến nay, hơn năm mươi năm đã qua, để thấy được nguyên nhân sâu xa những điều
tâm huyết của Tô Hoài với một vùng đất ông từng gắn bó. Trải ba mươi năm kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ ngày nay đương bước vào giai đoạn xây dựng đất nước hùng vĩ
chưa bao giờ từng có, xin được in lại trọn bộ cả ba tiểu thuyết: Quê nhà, Quê người và
Mười năm.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
I
ùng... tùng... tùng...
Tiếng trống thúc thuế inh ỏi, ra riết, gay gắt, càng về những ngày cuối càng
gay gắt. Không biết những ai mười tám tuổi trở lên phải chạy đông chạy tây lo
thuế thế nào thì lo, nhưng cứ mỗi lúc từng hồi trống ngoài đình nổi lên liên miên ba
tiếng một thì trẻ con các xóm lại cất cổ nhại theo: tiền... tiền... tiền... tiền... tiền... tiền...
Chị Hai Tâm đánh xong mẻ suốt ấy rồi vào sửa cửi. Lạp đương lúi húi cắt cái “rạp” ở
cửa gỗ. Chị Hai ngồi vắt vẻo trên đầu song hành, hai tay luồn vào mặt cửi, vừa gỡ vừa nói
đùa:
- Trống gọi tiền anh Lạp đấy. Anh Lạp năm nay đóng thẻ có sản hay thẻ vô sản?
- Tôi bao giờ chẳng vô sản.
- Sao bảo bài bổ làng ta năm nay ông lý Dĩ khai không có hạng vô sản?
- Thế mới bỏ mẹ ông lý Dĩ! Tôi vô sản lại bắt tôi phải đóng hạng có sản à? Nghị định
đã chẻ hoe là hạng vô sản đóng một đồng, thì cho ở làng. Này các ông ấy có phu phen tạp
dịch hay phụ thu lạm bổ vào đấy nhiều lắm cũng chỉ đến một đồng mười lăm xu là hết
nước. Tôi chỉ đóng có thế.
- Thế thì thuế năm nay cũng lôi thôi đấy nhỉ?
- Lôi thôi chứ!
Chị Hai Tâm đờ mặt:
- Chỉ có bố cháu ở dưới âm phủ là yên trí thôi.
Tùng... tùng... tùng... Chị Hai đờ mặt nghe, rồi nói:
- Thật cũng rầy rà. Hay là anh Lạp cứ đóng hạng có sản đi. Tôi sẽ phụ cho một ít.
- Không được. Phen này chúng tôi nhất quyết cho lý Dĩ một mẻ.
Chị Hai Tâm đứng lên, nguýt Lạp, rồi trách dịu dàng một câu:
- Chẳng thấy ăn thua đâu, chỉ những họp với hành từ hôm nọ tới giờ, bỏ mấy buổi
cửi rồi.
Cơm chiều xong, ra khung cửi, Lạp không xuống ao tắm như mọi hôm. Lạp mặc áo,
đi ngay. Chị Hai dặn với:
- Mai nhớ sang sớm nhé!
Nhưng Lạp đi biệt, bỏ cửi luôn một phiên chợ.
Trong nhà ông Trương Ba, ở cuối xóm. Kẻ nằm người ngồi dưới ánh đèn tù mù vàng
hoe. Bên những đùi, những vế gác ngược gác xuôi lên nhau, những cái khuỷu tay ghẻ cọ,
day cạch cạch xuống phản như chó gãi ghẻ, cái bát điếu chốc lại rên lên sòng sọc. Có mấy
tờ báo Tin tức, mấy cái điều lệ Ái hữu thợ in, thợ may, thợ mũ, thợ giầy, quăng bừa bãi.
Lê trân trân nhìn một cái bìa sách, bỗng cất tiếng hỏi một câu không ăn nhập gì tới
quyển sách nọ:
- An, thế đằng ấy cứ nói thật cái bụng đằng ấy lúc này cho chúng tớ nghe cả nào.
Trong đống người nằm, một câu đáp ậm ờ, lúng túng, nước đôi:
- Đã bảo cứ như mình thì mình không đóng đâu. Mà mình đã không đóng thật.
Mình đã ký cả vào đơn chống thuế với các đằng ấy cơ mà. Nhưng các đằng ấy còn lạ gì u
tớ. Động một tí là nháo lên. Cho nên u tớ có đến nhà lý Dĩ, còn có đóng hay không thì
thật tớ không biết. Riêng tớ thì nhất định không đóng.
Lê đã tức lắm, miệng bầm bập chực nói từ nãy. Cố nén nghe đến đấy thì khó chịu
quá rồi. Lê nhỏm dậy, sấn sổ:
- Mày nói vậy thì chó nó cũng không ngửi được. Thế u mày vào nhà lý Dĩ đóng thuế,
thì đóng cho ai, cho con chó à?
- Nghĩa là...
Lê đứng lên, nói buông choang choang:
- Không phải lễ nghĩa gì nữa. Mày phải biết rằng từ ngày hơn năm mươi chữ ký
chống thuế gửi lên Công sứ, lên Thống sứ Bắc Kỳ thì lão lý Dĩ xanh mắt rồi. Cái thư của
quan Phủ à? Cái thư của Phủ gửi về khuyên anh em cứ đóng theo bài bổ, nhầm lẫn đâu
sẽ xét sau là chúng nó định làm kế hoãn binh. Được thể, lý Dĩ gọi anh em ra đình, phét
lác nhặng lên, nhưng chúng ông nắm được chuôi rồi, càng sợ thì càng to mồm. Cái thư
ấy chỉ là cái thư xoa dịu. Chúng ông không đóng hai đồng rưỡi, chúng ông chỉ có một
đồng. Thế nhưng lý Dĩ nó cũng khéo bịp lắm, nên vẫn có thằng sợ. Tao nói thật chứ, lên
đồn hay xuống phủ thì chúng tao đây cũng chỉ một đồng thôi. Lịch sử loài người chỉ tiến
bộ chứ không bao giờ thoái lui cả.
Trong lúc Lê nói, cả lũ Lạp, Trung, Ba đã ngồi chồm hỗm lên nhìn Lê, như đợi Lê bật
ra một câu gì nặng nữa cho hả. Chưa thấy Lê nói. Anh nào cũng liếm mép mấy lượt. Rồi
có anh đánh một câu:
- Tiên sư những đứa khốn nạn thậm thọt vào nhà lý Dĩ!
An chạm phải gai, nhỏm dậy:
- Nếu không đi với chúng mày thì tao đến đây làm gì? Đứa nào thậm thọt? Thằng
nào chửi mẹ ông thế?
Im lắng.
- Trước sau tao vẫn bảo tao với chúng mày là một thì chúng mày lại chửi tao nhem
nhẻm. Thế là thế nào? Khối đứa kia kìa, cũng ký đơn hăng lắm, mà bây giờ nói theo phe
lý Dĩ, nó đóng thuế có sản, nó phản thùng chửi lại thì chúng mày lại câm họng. Cánh nhà
lý Dĩ, lại chi tóp những họ Nguyễn, họ Bùi đấy, làm gì được chúng nó thì làm nào?
Lê nói:
- Thế nào cũng có thằng bỏ mẹ với ông!
An cười nhạt:
- Không nói thăng thiên đấy chứ?
- À, mày láo hả?
Lê và An cùng phắt lên, lênh nghênh như hai ông tướng phường chèo trên cái phản
mọt, mà bốn chân mễ đã chuyển răng rắc. Lạp, Trung, Ba nhỏm cả dậy. Ông Trương và cô
Nhàn ở trong nhà cũng phải chạy ra. Họ lôi hai người ngồi xuống.
Lạp giảng giải:
- Lúc này mà đánh nhau là nát bét hết công việc. Dù sao thì lý Dĩ cũng đuối lý, nhất
định mình theo kiện đến cùng, thế nào cũng được. Nhưng phải nhận rằng hàng ngũ
chúng ta trước kia ghép chặt thế mà nay thì lỏng lẻo rồi. Hơn năm mươi chữ ký đấy mà
rơi rụng chỉ còn độ hai mươi là trung thành thôi. Cho nên phải tìm cách nào chứ đánh
nhau à? Ông thả ra cho mỗi thằng quạng nhau vài cái chán tay thì chỉ đến ngồi thở, ăn
thua mẹ gì! Mà vẫn không thể được kiện!
Câu nói của Lạp vừa cay, vừa có lý. Trong im lặng, cả bọn lọt vào một cái châng hẩng,
nặng nề. Mỗi người lại lần lượt với cái bát điếu về phía mình. Bực tức, càng rít khỏe.
Nước điếu tù sòng sọc rên lên. Rồi sau làn khói, những cái miệng lơ mơ há hốc.
An vẫn lảu bảu nói:
- Ông không đi với anh em thì tội gì ông đem bài đi đăng báo, đi mua sách báo cho
chúng mày. Ừ, dù u ông có đóng thuế mất rồi, thì ông vẫn bảo ông vẫn thế kia mà, cũng
vẫn được kia mà. Thằng Lạp nói đúng, bỏ ra một mình suất của tao, cố giữ được hai
mươi suất không đóng, chứ nếu để tan vỡ cả, nó quật lại cho thì phen này đến bỏ làng
bán xới cả lũ. Để mai tao đi mua báo mới về xem tin tức các nơi ra sao.
Cho đến khuya, không ai nói nữa. Lê nói một câu cuối cùng, rồi ai về nhà nấy.
- Đứa nào gặp anh em cũng dặn lại nhau một lần nữa. Không sợ, còn ba người cũng
không sợ. Nhất định chỉ đóng vô sản một đồng thuế thôi, đi đến đâu thì đi.
Tuy vậy, điểm những mặt ngồi đấy, không những chỉ có An mà còn có anh khác cũng
phân vân, muốn nước đôi. Có anh ngồi đây, nhưng ở nhà đã đem tiền thuế đến lý Dĩ, năn
nỉ: “Ông cứ cho cháu nó đóng đằng có sản. Nó dại, đi a dua, rồi tôi bảo dần”. Lý Dĩ cười:
“A dua những thằng khố dây, có làm sao thì đến vặn răng chúng nó là cùng, dại quá”. Thì
bà Hương, mẹ An cũng nghĩ thế, làm thế.
Hôm sau, An ở tỉnh về, nách cặp một xấp hai mươi tờ báo Tin tức. Gặp ngay bọn Lê
ngồi chầu rìa đầu làng, đương mong mỏi, chờ đợi.
Trên đình, thằng mõ vẫn thẳng cánh giọt trống ngũ liên. Từ ngày ký đơn chống thuế,
thật tình từ cái lúc hồi ngũ liên đầu tiên báo hiệu gióng giả thu thuế, bọn Lê đã bắt đầu
sốt ruột, không anh nào yên tâm làm gì. Không phải vì có ai xui giục, mà chỉ bởi vốn ghét
sẵn bọn lý dịch, nhân vụ thuế sắp tới, đọc báo Tin tức thấy các nơi kêu thuế, thì họ họp
nhau lại chống thuế. Báo Tin tức từ đấy là cái nguồn phấn khởi giúp họ.
Trông thấy An, mọi người nhao nhao:
- Thế nào? Thế nào?
An giơ tập báo. Những cái đầu bu lại, giữa tiếng Lê thì thầm với An. Lê đã quên
những cãi cọ tối qua, cũng như không để ý cả chuyện mẹ An đã đem tiền đóng thuế cho
An mà ai cũng biết, Lê nói:
- Nó định gọi lính phủ về ốp. Mai đã là ngày tận thu rồi.
- Yên, yên. Báo nói đây này.
An mở trang giữa tờ báo bốn trang khổ rộng. Ở cột cuối có bài: Anh em vô sản làng
Hạ cương quyết đấu tranh. An cất giọng đọc to cho mọi người cùng nghe. Bài báo ấy ở
tòa soạn đã chữa nhiều câu khác câu của An viết, ngay từ cái đầu đề, nhưng nghe vẫn
hợp lắm, và lại thêm nhiều chữ chính trị càng thấm thía hơn. An đọc tiếp sang những tin
chống thuế ở các nơi khác. Mọi người bồi hồi cảm thấy sự liên lạc tinh thần giữa mình
với tòa báo và với anh em chống thuế đang sôi nổi khắp mọi nơi (Nhiều nơi còn kịch liệt
và gay go hơn ta)... An vẫn đương đọc vanh vách trong tờ báo ra, thì những người uể oải
lo sợ nhất cũng lại háo hức, sôi nổi lên.
Lê nói:
- Nếu thế thì việc chánh Nhạ hôm nay cũng cần phải đăng báo lắm.
- Phải, phải rồi.
- Đăng báo cho nó một mẻ!
- Việc gì thế?
- Sáng nay chánh Nhạ trói thằng Ngô rong lên khắp làng. Vừa đi, nó vừa đánh, vừa
chửi xỏ: “Mày bắt chước những thằng nào, mày muốn ỳ thì bảo ông. Trêu tay ông không
được đâu. Ông cứ đánh cho đến bao giờ mày ộc ra máu, ra thuế, mới thôi. Ông phải thi
với mày xem đứa nào gan hơn đứa nào.”
- Cái này là một cái dã man, ta phải đăng báo.
Họ lại rối lên bàn chuyện đăng báo. Mà quên không để ý đi nghe ngóng xem mai lý
Dĩ có gọi được lính phủ về đốc thuế ngày tận thu không.
Trên đường vào xóm, cả bọn gặp chị Hai Tâm. Trông thấy cái áo cánh vải lơ trắng
mát với chiếc thắt lưng màu hoa lý phất phới đằng xa, Lạp toan lẩn, nhưng không kịp.
Chị Hai đã gọi eo éo:
- Gớm thật, anh bắt tôi đánh đuổi anh hết ngày này sang ngày khác thế này là ra làm
sao?
- Chị cứ về. Mai tôi đến.
- Anh thử nhớ xem anh hẹn mấy mai rồi?
Lạp cười:
- Mai thật mà.
- Hay là tôi đóng thuế cho anh cho xong đi để còn làm ăn chứ.
Lạp vừa ngượng, vừa tức, sừng sộ:
- Ơ hay chị này! Đừng có đụng vào đấy mà không xong với tôi.
Chị Hai cười, đấu dịu:
- Ừ thế mai nhớ sang sớm, đừng để đỗi cơm mà tôi rủa cho ngồi đứng không yên
đấy.
Chị Hai đi khỏi, có anh nói pha:
- Nói với thợ cửi nhủng nhẳng như nói với chồng con ấy.
- Mày làm bố thằng Tâm thế mà được.
- Chỉ láo nào!
Lại như thói quen, tối đến, họ họp nhau ở nhà anh Ba, kẻ nằm người ngồi dưới ánh
đèn tù mù vàng hoe. Những đùi, những vế gác lên nhau, những khuỷu tay ghẻ cọ, day
xuống mặt phản, bên cạnh cái điếu, mấy quyển sách quăn hết mép, mấy cái điều lệ Ái
hữu đã nhàu nát và những tờ báo Tin tức mới. Họ nói cho nhau biết những tin, chuyện
nhặt được trong ngày. Lý Dĩ cũng bí lắm. Không gọi được lính phủ về, vì mùa đổ thuế
này, những cơ, lệ còn phải bổ đi thúc các làng khác, có nơi còn khó khăn hơn đây nhiều.
Lão lý bắn tiếng muốn điều chỉnh, muốn chia đôi số bài bổ thừa, cánh vô sản chịu một
nửa, lão chịu một nửa. Lại cũng nghe chuyện lý Dĩ uống rượu, bảo con: “Chúng mày
sống để dạ chết mang đi, nhớ lấy mặt bọn thằng Lê, thằng Lạp, thằng Trung mà giả thù
cho tao”. Lão cuống rồi. Ngũ liên vẫn đánh ra rả. Xin phép trên phủ cho được kéo dài hai
ngày nữa thì cũng chỉ đến chiều ngày kia là tận thu. Nếu như đến bấy giờ vẫn không
chịu đóng, lão phải cộp tiền nhà lão ra. Lão chịu thế ư? Sao bây giờ vẫn chưa đả động
tróc nã đến bọn chống thuế? Muốn xoay đòn gì đây?
- Đòn gì, đòn bán nhà mà nộp thuế đậy.
Từ nãy, Lê ngồi yên, mơ màng trước trang báo mở rộng, mùi mực, mùi giấy thơm
hăng hắc bốc lên, lung linh những chữ in tròn, gọn và sắc nét lạ lùng. Lê nhìn An đương
viết bài gửi đăng báo kể việc chánh Nhạ dã man đánh đập thằng Ngô. Lê ngắm An cắm
cúi, hí hoáy viết. Lê thèm, Lê thấy khao khát viết. Bài báo kia cũng cảm Lê không kém tha
thiết, có phần lại quyến rũ hơn, rành rõ hơn. Người ta có thể viết được báo. Thì chúng ta
đã viết báo rồi đấy. Cái bài An viết hôm nọ, đem đọc ra, mình cũng viết thêm vô khối câu
vào, bây giờ những câu của mình ấy cũng đương bò lổm ngổm trên tờ giấy thơm phức
kia, chẳng của mình thì của ai. Lê nhớ một lần ra Hà Nội, đến tòa báo Tin tức, thấy các
anh tòa báo với anh “loong toong”, anh viết băng báo cùng ngồi xúm quanh mâm cơm
rau muống chấm tương, vẻ bình đẳng và đại đồng lắm. Từ ấy, nhất là lúc này, Lê ước
được làm anh “loong toong”. Lê không muốn làm chân viết băng báo, vì Lê vốn chỉ học
lấy, không tập viết, chữ nghều ngoào như cua bò, nếu Lê được làm chân chạy giấy ở tòa
báo Tin tức để được học thêm, học chữ, học tranh đấu làm cách mạng, viết được bài trên
các báo phái tả, dưới đề tên tác giả: Văn Lê. Mộng to quá! Nhưng mà sao lại không thành
sự thực được. An viết bài báo, Lê cũng viết được bài báo. Một bài báo cũng chỉ bằng
những chữ ta thường nói. Chỉ cột cái tinh thần. Lê viết. Lê lấy mảnh giấy, nhấm bút chì
viết. Bên cạnh những cái lưng, cái chân đương kỳ xuống phản, chốc lại hích vào Lê, xô cả
mảnh giấy Lê viết, Lê hí hoáy... Chánh Nhạ... anh Ngô... vừa đánh vừa chửi... dã man... ức
hiếp... tranh đấu... công... công gì nhỉ?
Quá nửa đêm, họ lẻ tẻ về, có người đã nằm ngáy khò. An và Lê vẫn ngồi lên, nằm
xuống, băn khoăn. Lê cũng đã viết xong, Lê đưa cho An xem những dòng chữ chì của
mình leo lên bò xuống chi chít trên mảnh giấy không có một cái dấu chấm câu.
An đọc bài của Lê, rồi nói:
- Hay đấy. Tao ghép bài của mày vào bài của tao, rồi gởi đăng báo.
- Thế hả?
Trong ánh mắt Lê cười ngụ một cái thú vị kiêu hãnh. Xưa nay không biết mặt chữ,
không mất một xu đóng tiền học cho ông thầy, ông đồ nào mà bài viết của ta cũng ghép
được với bài của cái thằng có một bụng chữ, đi học từ lúc để chỏm.
Lê nói:
- Mai chúng mình đem bài này đi. Nhân thể, mua thêm báo Tin tức về bán. Còn có
thể bán được vài chục số nữa chứ không phải ít đâu. Bán cả sang các xã khác cho mở
rộng phong trào.
- Mai mày không đi dệt cửi à?
- Kệ.
Rồi Lê bảo An dạy cách đặt các thứ dấu phẩy, dấu chấm, dấu than, dấu hỏi, dấu
trước câu nói ngoặc ra ngoặc vào. Cho đến lúc hai người đi về, trong đêm khuya, Lê ta
hãy còn ve vuốt mộng viết báo.
- Viết báo thế mà khó.
An nói:
- Phải học nhiều.
- Tao nghĩ đọc nhiều sách cần hơn. Tao nghe nói như anh Trần Huy Liệu là người đọc
nhiều sách chứ có phải là người mất tiền đi học nhiều đâu, mà giỏi thế.
- Mày dốt lắm! Đọc hay học thì cũng vậy.
- Tao sẽ đọc nhiều hơn và tập viết. Trước hết tao nhờ mày dạy tao viết chữ quốc ngữ
cho thật đúng đã. Tao sẽ viết báo, viết sách, tao thích cả làm thơ.
Hôm sau, Lê và An ra tòa báo ngoài Hà Nội. Lạp cũng đi theo. Lạp vẫn chưa trở lại
khung cửi nhà chị Hai Tâm.
II
ài báo Phản đối đánh người trong lúc thu thuế của An và Lê viết tối ấy, đưa ra báo
Tin tức đăng ngay. Báo đăng ngay. Báo Tin tức số ấy đem về bán thêm được mấy
chục tờ, cả vùng. Anh em thích quá, tán: bọn lý dịch chúng nó run như dẽ!
Rồi lại chống thuế thắng lợi nữa. Thì ra lão lý Dĩ vì chắc mẩm ăn thua trong dịp làm
thuế mới, đã khai bài bổ tâng công với phủ: làng Hạ không có sưu vô sản. Nay lòi ra mấy
chục suất, thì lão phải đóng đậy vào. Những người kia, vô sản thật, họ chỉ xỉa ra có một
đồng bạc. Lão lý tím mặt lại.
Ít lâu sau, lão lý đem cầm đoạn mại một thửa vườn tre.
Từ đấy, cả một vùng, khét tiếng thanh niên làng Hạ, đâu cũng kéo về đánh bạn. Bấy
giờ là năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, phong trào Bình dân sôi nổi ở ngoài Hà
Nội. Những người thanh niên các làng đương thèm khát say mê cái mới, cái lạ. Họ là
những người trẻ tuổi, khi họ lớn lên thì những cái lò rèn bí mật ở Thừa Lệnh Sơn Tây
làm bom bằng xi măng, mảnh chai, sắt vụn cho Việt Nam quốc dân đảng đã tan không
còn, việc thủ lĩnh Nguyễn Thái Học và những người đảng của ông bị lên máy chém ở Yên
Bái, Nhà nước Bảo Hộ tuyên truyền dọa nạt rầm rộ, cùng với hàng nghìn “vụ án Đông
Dương Cộng sản đảng” cũng chỉ còn là một cái ám ảnh khủng khiếp, nhưng lại gợi thêm
tò mò, nghĩ ngợi, thắc mắc mà thôi. Và những quyển sách in chằng chịt ảnh các chính trị
phạm bị tầm nã mà các viên quan công sứ đầu tỉnh tự tay phát bí mật cho các thày chánh
tổng, lý trưởng cũng đã bỏ xó trong tủ, không mấy khi các ông chánh lý phải mở ra để
nhìn mặt những người không có thẻ thân, những người đi qua làng bị tuần canh khả
nghi bắt giữ lại.
Nhưng đời sống hàng ngày thì lại dần dần biến đổi và hết sức bập bỗng. Nghề lĩnh
và nghề tơ tằm thôi thế là không còn ngóc dậy được nữa. Những người thợ cửi già dệt
giỏi lĩnh mười bàn nay cũng phải xoay sang tập dệt lụa khổ rộng, thoi giật máy. Các
khung cửi bây giờ làm lụa bằng tơ Ly-ông bên Tây, tơ tàu Tứ Xuyên, rồi gần đây thì tràn
lan cái tơ bóng tơ mờ nhập cảng của Nhật. Những lái buôn lụa vào lại bán tơ ra, hàng
phiên về ngồi xềm xệp giữa chợ Đơ ở Hà Đông, chẳng phải ướt cái khăn mặt lau mình
mồ hôi như khi ta đổ cuốn cửi mà họ mua ra, bán vào, lãi ăn bạc nghìn, giữ quyền sống
chết của cả mấy vùng công nghệ. Có người buôn lụa bán tơ Tây tơ Nhật giàu quá như
nhà Vũ Văn An, lại tậu máy tận bên Tây về mở xưởng thuê cả trăm thợ dệt. Vài ba nhà
buôn khác cũng xoay sang làm hàng chục khung cửi. Nhưng hầu hết các làng thì lẹt bẹt
mỗi nhà một hai khung, phiên đắt phiên rẻ, càng khiến cho người trong nghề chẳng biết
rồi ra làm sao. Hàng dệt càng không ai lấy làm quí nữa, chỉ làm điêu mãi ra, mỗi ngày
một đan mành mành bôi bác. Khách và lái mua thì tùy ý họ, phiên có phiên không, mùa
đắt mùa ế, mỗi năm chỉ rộ được vài tháng là giỏi lắm, rồi lại sạch tay, lại đương chủ hóa
thợ dễ như chơi. Nghề nghiệp và cuộc sống u ám, khó hiểu, tạm bợ. Giữa lúc ấy, bao
nhiêu tiếng vang mới lạ từ thành phố đưa tới. Họ mang máng rằng cả cái xã hội này cũng
chỉ là tạm bợ, không có lý và phải thay đổi. Họ là một lớp thanh niên mới lớn, khỏe,
hăng, háo hức.
Trong anh em hăng hái ở làng này chỉ có An là đã ngồi qua lớp nhất trường phủ.
Trung và Ba thì chưa biết chữ. Còn Lê, Lạp đều là những cậu nhai a, b, c ở nhà, học vu vơ
thế rồi cũng hóa ra đọc được. Họ mê mải lạ lùng, sách gì cũng đọc, chuyện gì cũng bàn
cãi và đêm ngày gò lưng nằm viết bài, chép thơ, viết thư tình chẳng gửi cho cô nào cả mà
để đọc với nhau. Trung cũng đã mua quyển sách mở lòng. Lê và An hô hào góp tiền lập
thư viện. Họ đi mua về những quyển Vấn đề dân cày, quyển Chu Đức, quyển Chiến sĩ xã
hội, những tiểu thuyết Tắt đèn, kịch Không một tiếng vang[1]... và các báo Tin tức, Đời
nay, tuần báo Thế giới, Kiến văn. Họ tập kịch Không một tiếng vang và mỗi chiều chợ tơ
thong thả lại họp nhau ở nhà ông Trương Ba đọc báo, đọc sách, cãi cọ văn thơ, chính trị
và hát. Rồi hễ nghe ở làng nào có tay thanh niên biết ăn nói giỏi là tìm đến làm quen để
thuyết và rủ cánh đánh bạn.
Thỉnh thoảng ngày phiên, cả lũ kéo bộ ra thành phố, đến chơi tòa báo Tin tức. Các
anh ở tòa báo tiếp, mời ngồi ghế sa-lông, hỏi han tỉ mỉ, thân mật, cặn kẽ, sướng quá.
Chưa bao giờ được gặp những người tri thức giỏi như thế lại thân như anh em, làm cho
họ có cảm tưởng tòa báo ấy gần gũi. Mỗi lần trở về làng, lại thấy vùng mình thấp đi và họ
say sưa hùng hồn nói toàn những tiếng mới vừa nghe được. Bắt chước giọng các anh ấy,
họ uốn cong lưỡi khi nói đến các tiếng có chữ s, chữ ch, chữ d, sự sống, tổ chức, quần
chúng, Đông Dương đại hội...
Một hôm Lê bảo An:
- Ngoài tòa báo trả lời rằng dù về đây hơi xa nhưng các anh có thể đi xe đạp về giúp
huấn luyện cho chúng ta được. Chủ nhật này thì có một anh về. Ta họp anh em ở đâu cho
tiện?
- Không nên ở nhà thằng Ba. Chúng ta phải có nhiều nơi hội họp. Cần kín hơn. Mà
bất ngờ càng hay. Cho bọn lý dịch chúng khiếp, chỗ nào cũng thấy thanh niên.
- Ờ. Nhà cậu thế mà tốt. U cậu đã đóng thuế thân cho cậu, chúng nó tưởng cậu
không cùng cánh với chúng tớ nữa rồi.
An chối:
- Không tiện. Nhà tớ hay có người ở tỉnh về chơi. Phải bí mật hơn.
- Nhà bác cai Giắt được chứ?
- Được thì tốt quá.
Nhà bác cai Giắt ở khuất. Nhà có cổng gỗ, chòi cổng chứa sẵn toàn mảnh sành, chai
vỡ nghiêm ngặt hệt trại lính. Bác ấy vui tính, cái gì cũng thấy vui, vợ mắng như tát nước
vào mặt mà vẫn tìm ra cách nghĩ chỉ thấy vui. Lúc nào bác cai cũng đeo bên sườn cái bình
toong đựng rượu còn giữ được từ ngày mãn lính. Các ông lý dịch không ưa tính bốp chát
của bác. Vả lại, bác đã đi lính sang tận bên Tây, cái năm có chuyến nhà nước lấy lính ta
sang dẹp loạn bên Ma Rốc, bác đi lâu, ở cơ ngũ, có đánh trận mạc hẳn hoi mà sau khi
mãn về vẫn chân trắng binh bét, cho nên tự nhiên là lý dịch họ khinh bác. Bác đã đi
nhiều, đâu cũng biết, biết cả con “sa mù [2]” có hai cái bướu trên lưng quanh năm nhịn
nước. Bác đã được qua cái bãi sa mạc toàn đồng không cát trắng, chẳng bao giờ đi hết
được, cho nên, cũng tự nhiên là bác cai xem mấy ông chức việc trong làng chỉ rất xoàng
mà thôi. Thấy trai làng chống thuế, bác bảo: “Được đấy. Cứ bắn khỏe vào. Ở bên Tây,
những quan ba quan tư mà chúng tớ vẫn kiện thẳng cánh, chẳng có gì là sợ”.
Bác cai Giắt cười khề khề. Thật tình thì chỉ mới nghe Lê nói lõm bõm, bác cũng chưa
hiểu các anh trai làng định mượn một gian nhà mỗi phiên chợ một buổi để làm cái gì,
nhưng vốn tính hay tưởng cái gì mình cũng biết cả rồi, bác cứ ừ, cứ bảo: “Khi còn ở lính,
chúng tớ cũng vẫn làm thế mà”.
Cái gian đầu hồi nhà ông cai Giắt được quét tước sạch sẽ. Họ đem treo vào đấy một
bản đồ Đông Dương cắt ở sách ra. Rồi chủ nhật ấy, buổi trưa, bọn Lê, Trung, Lạp, An ra
tận đầu làng đứng đợi anh nhà báo. Từ giữa cánh đồng, chuông xe đạp kêu kính keng,
anh nhà báo đã về. Anh xuống xe, bắt tay mỗi anh một cái rất chặt rồi miệng anh lại tự
giới thiệu “Tôi là Tần, các đồng chí tên là gì?”. Sau đó, cùng kéo về nhà bác cai Giắt. Anh
Tần làm việc ngay. Anh đứng chỉ bản đồ nói chuyện về phong trào dân chủ chống phát
xít trên thế giới và Đông Dương. Anh em nghe mê mải. Bác cai Giắt đương dệt, chốc
chốc cũng lại bỏ cửi, tay cầm cái thoi ra đứng ngoài cửa, nghênh bộ râu trê nhìn vào. Lúc
anh nhà báo ra về, mọi người nắm tay giơ lên đầu chào nhau theo lối chào của thanh
niên dân chủ thế giới. Bác cai Giắt cũng xòe bàn tay giơ ngang tai chào anh nhà báo ấy rồi
bảo Lê: “Ở trại lính thì xòe tay chào thấp thế thôi. Này cái bài các tướng vừa nghe giảng,
ngày trước ở lính tớ vẫn được nghe luôn, mà người ta làm ra thành vè như truyện Kiều
kia. Thế mà còn rất khó nhớ. Học cái này nát óc hơn đánh tổ tôm!”.
Anh em thì thích quá. Chưa bao giờ được nghe tình hình nhiều và rành rõ như thế.
Lần sau, họ còn rủ thêm nhiều anh nữa ở làng dưới lên.
Luôn mấy tuần lễ liền, anh Tần về nói chuyện.
Chủ nhật kia, họ lại hội nhau lại đợi anh Tần. Nhưng đến tận chiều cũng chẳng thấy
anh ấy đến. Mọi người sốt ruột. Vả lại ngày cuối phiên, ai cũng bận, mọi người lãng đãng
về. Chỉ còn có Lạp, Lê, Trung vẫn rốn ngồi đợi. Mãi đến chặp tối mới thấy anh Tần dắt xe
mò vào trong ngõ.
- Có một thằng “cớm[3]” theo từ đầu ô, mình đạp nhanh nó cũng nhanh, chậm nó
cũng chậm, về đến đây mà nó vẫn bám, mình phải đạp phóng một quãng xa cho lạc nó
rồi mới quay lại được.
Họ nhìn Tần bằng con mắt kính phục. Mặt anh vuông, bạnh. Bàn tay to như bàn tay
một công nhân nhà máy, miệng anh cười tươi và nói lưu loát đúng chất một chiến sĩ cách
mạng. Cái sơ mi trắng cộc tay, cái quần soóc trắng, càng làm tăng dáng vạm vỡ, nom anh
thật hệt một công nhân bên Liên Xô đầu óc đầy hiểu biết và tranh đấu. Anh xứng đáng
để bọn "cớm" phải theo. Lê nói:
Đầu óc đầy hiểu biết và tranh đấu. Anh xứng đáng để bọn “cớm” phải theo. Lê nói:
- Nếu anh vào bảo lúc nãy thì chúng tôi sẽ ra giã cho nó một mẻ.
- Ấy chớ, không nên bạo động không cần thiết.
- Vào làng thì đánh dễ lắm, thỉnh thoảng cũng phải đấu tranh thế nó mới sợ, anh ạ.
Tối nay chỉ có ba người nghe anh Tần nói. Tần đứng trước bàn, vừa nói vừa chống
một nắm tay xuống. Mấy người nghe ngồi trên bậu cửa.
Anh Tần nói về lịch sử loài người. Người ta không phải do ông Bành Tổ sinh ra. Mà
loài người chỉ là loài khỉ ngày một tinh khôn dần lên, trải qua bao nhiêu nghìn, vạn, triệu
năm cho tới được mức đầu óc và lối sống văn minh như ngày nay...
Tần rút trong túi áo ra một mảnh giấy con. Tần đọc to những câu hỏi ghi trong giấy:
Giai cấp đấu tranh là gì? Chủ nghĩa tư bản là gì? Chủ nghĩa đế quốc là gì? Chủ nghĩa
phát xít là gì? Làm thế nào để thực hiện chủ nghĩa cộng sản? Rồi Tần lần lượt cắt nghĩa.
Đến câu khoái nhất: Ở chế độ cộng sản không còn giai cấp đấu tranh nữa. Tần hùng
hồn nói, nhíu đôi mày rậm, căng mặt, tung cả khuy áo ngực; nắm tay anh nhấc lên đặt
xuống như cái chày giã gạo.
- Đồng chí Các Mác nói: “Vô sản toàn thế giới hãy liên hiệp lại”. Có thế thì cách
mạng mới thành công được. Bấy giờ giai cấp vô sản đã đánh đổ giai cấp tư bản, trả lại
quyền lợi, tự do và sức làm việc cho tất thảy mọi người. Hết bọn chủ mỏ, hết chủ đồn
điền, hết những bọn chuyên môn bóc lột. Bấy giờ người ta trên hoàn cầu chỉ còn phải
tranh đấu với thiên nhiên. Nghĩa là thế này: người dân cày một năm gặp hạn hán thì nhà
bác học bèn nghĩ ra cách làm cho trời phải mưa. Ở Liên Xô bây giờ đương làm được như
thế. Nhà bác học lại nghĩ ra những thứ thuốc chống bệnh tật, ốm đau, có thể làm cho
người không bao giờ chết. Bấy giờ không phải chỉ có một ông Bành Tổ tưởng tượng mà
ai cũng là ông Bành Tổ, mà là ông Bành Tổ béo tốt, sung sướng, muốn gì được nấy, muốn
đôi giầy được đôi giầy, muốn cái áo sơ mi trắng được cái sơ sơ mi trắng. Trên hoàn cầu ai
cũng vui vẻ, trẻ con không biết khóc, người lớn không biết cãi nhau, không đâu còn nạn
thất nghiệp, nạn mãi dâm, ai cũng được đi học, được phát triển tài năng của mình và tiêu
dùng tha hồ những của cải của xã hội làm ra...
Ánh đèn hắt lên trán anh Tần nhếnh nhoáng mồ hôi. Anh Tần nói nghe mê quá. Bốn
bề im phăng phắc.
Rồi cả bọn ra ao tắm. Trăng sáng như ban ngày. Cửa sổ bên khung cửi chị Hai Tâm
cũng vừa tắt đèn lên đầu hôm. Chị Hai cầm cái quạt nan ra đứng bên bờ ao, ngửa mặt
quạt mớ tóc buông xõa dài chấm gót. Chị vừa ra khung cửi. Thoáng trông xa trong ánh
trăng thấy trần hai vai, lồ lộ mảnh yếm trắng lốp như cánh hoa nhài nở đêm. Thấy mấy
người lố nhố xuống cầu ao bên này, chị Hai hỏi:
- Có anh Lạp đấy không?
Lạp khẽ:
- Đừng ai gọi tên tớ nhá.
Lê đáp to:
- Có Lê đây thôi.
- Tưởng có anh Lạp thì bảo về mà ngủ sớm, chả có mai lại nửa ngày chưa vào khung
cửi.
Mấy người cười rinh rích. Chị Hai vẫn chưa chịu buông chuyện:
- Anh Lê hồi này làm đâu mà thong thả thế?
- Thong thả quái gì, vội chúi mũi suốt phiên đấy.
- Vội mà đêm cuối phiên bận nhất thế này lại nghỉ? Khéo giấu đầu hở đuôi!
- Vội ngày thôi, tối vẫn nghỉ như thường.
Lê lại nói:
- Chẳng khác ngày làm tám tiếng bên Liên Xô, chị có biết không?
Trong nhà bác cai Giắt có tiếng đàn bà léo xéo. Mọi người lắng tai nghe. Chưa hiểu là
bác cai gái đương chửi mát những đứa động cỡn nói chuyện đêm qua ao hay bác ấy to
tiếng gì, nhưng chị Hai đã nói:
- Bà lão mắng ông lão đấy.
- Rõ khổ!
- Chỉ tại các tướng thôi.
- Sao lại tại?
- Họp với hành ở nhà người ta để ông lão cứ xem ra xem vào, mất việc, vợ lão mới
chửi cho chứ sao!
- Sang tận Tây về mà chịu nước ức ấy nhỉ?
Chị Hai Tâm cười khanh khách:
- Chưa ai trông thấy chòm râu quặp của bác ấy bao giờ à?
Bốn anh đàn ông lố nhố ngâm mình dưới ao vẫn chuyện sang. Lạp nói khẽ:
- Chuyện ma mãnh với chị này thì cả đêm được!
Bên kia lại léo nhéo:
- Nhà bà tôi trong xóm còn một khung, anh Lê có về làm thì tối tha hồ nghỉ đi chơi.
Lê đùa:
- Một thằng Lạp còn chưa đủ, lại tôi nữa, chị mộ nhiều người thế? Có cần cả bọn này
nữa không nào?
Tiếng cười lại oang trên mặt nước. Chị Hai, chưa nghe rõ, cũng cười theo. Lạp bảo:
- Bé mồm chứ. Bà lão Đôi mà nghe tiếng tưởng đứa nào chim chuột con dâu bà ấy, lại
ra chửi toáng lên bây giờ.
Lê thì thào:
- Tớ đã có phép, nếu tớ lên bây giờ thì ả phải vào ngay. Lên nhá!
Nói rồi, Lê lên bờ ao thật. Lê tồng ngồng, lấp loáng trong bóng tối và ánh trăng. Chị
Hai vẫn đứng bên kia, quạt tóc phành phạch. Làm như không biết. Phải cho tới cả ba bốn
người nồng nỗng ào lên, chị Hai mới đủng đỉnh vào. Hai vai trắng ngần như bóng trăng
lặn sau bụi hoa đơn đỏ. Anh Tần phải nói: “Bạo thật! Có thể giác ngộ chị ấy”. Lạp cười:
“Chị ấy có mà giác!” Cả bọn cùng cười, vẻ đồng ý câu đùa mỉa của Lạp.
Ở dưới ao lên, qua nhà ngang, còn nghe tiếng bác cai gái nói ì èo. Lê nói:
- Bao giờ cho xã hội hết những cảnh đau khổ này?
Ra đến đầu ngõ, thấy bác cai Giắt đã đứng đấy, ta...
 





